5 bệnh đáng sợ do rượu


Uống quá nhiều rượu sẽ sinh ra các bệnh liên quan đến gan, rối loạn tâm thần và hành vi, thoái hóa hệ thần kinh, nhiễm độc, bệnh dạ dày và bệnh tim. Đó là những bệnh có tỉ lệ tử vong cao.
Tác hại của rượu
Theo nhiều nghiên cứu, chất cồn khi vào cơ thể, nếu vượt quá mức cho phép dù chỉ rất ít cũng sẽ gây ra nhiều tác hại cho sức khoẻ thể chất và tâm thần. Trước tiên, nó tác động trực tiếp đến tâm lý: làm giãn các mạch máu, đặc biệt là các mạch máu bên ngoài. Điều đó lí giải vì sao sau khi dùng đồ uống có cồn chúng ta lại có cảm giác ấm lên. Sau khi uống rượu, việc điều chỉnh nhiệt lượng tự nhiên của cơ thể không còn hiệu lực nữa, do cồn còn có tác dụng gây mê nên cảm giác lạnh không còn cảm nhận được. Do đó uống rượu trong mùa đông có thể dẫn đến lạnh cóng mà chết.

Chất cồn tác động rất lớn đến bộ não. Cồn cũng ảnh hưởng đến tình dục và khả năng có con. Cồn làm giảm tính tự kiềm chế và vì thế tăng hưng phấn tình dục. Cồn thuộc vào các chất có tác dụng độc hại đến tinh hoàn và tinh trùng. Nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm tăng khả năng sảy thai mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con sinh ra. Người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có khuyết tật về trí tuệ.
5 bệnh đáng sợ do rượu, Sức khỏe đời sống, suc khoe, uong ruou, tac hai cua ruou, benh da day, benh tim, bao
Nghiện rượu gây nhiều căn bệnh nguy hiểm.
Bệnh do nghiện rượu
Viêm gan: Viêm gan do rượu là tình trạng viêm và hoại tử tế bào gan kéo dài 1 đến 2 tuần. Triệu chứng gồm: chán ăn, buồn nôn, ói, đau bụng, sốt, vàng da, thỉnh thoảng có rối loạn tâm thần. Bệnh có thể diễn tiến đến xơ gan do rượu qua nhiều năm. Xơ gan do tế bào gan bị tổn thương thường xuyên. Gan nhiễm mỡ là giai đoạn sớm của bệnh gan do rượu, nếu bệnh nhân ngừng uống rượu ở giai đoạn này, bệnh có thể tự khỏi. Rượu có thể gây tổn thương gan dù uống ít nếu dùng chung với thuốc có chứa acetaminophen. Viêm gan do rượu thường xảy ra ở người nghiện rượu, nhưng nó cũng xảy ra ở người thỉnh thoảng uống rượu. Viêm gan do rượu có thể gây tử vong, đặc biệt nếu bệnh nhân có tổn thương gan trước đó.

Sảng run: Bệnh sảng run chỉ xảy ra ở người nghiện rượu. Đây là biến chứng trầm trọng và thường gặp nhất ở người nghiện rượu. Bệnh này cũng được gọi là "hội chứng cai rượu". Nguyên nhân gây ra sảng run là nhiễm độc hệ thần kinh và rối loạn chuyển hóa do rượu. Bệnh xuất hiện sau khi ngừng uống rượu từ khoảng 12 - 48 giờ với 2 nhóm triệu chứng nổi bật. Một là rối loạn ý thức kiểu mê sảng: mất năng lực định hướng không gian và thời gian, nhận dạng người thân kém, mất ngủ hoàn toàn hay ngủ chập chờn vật vã với nhiều ác mộng; luôn ở trong tình trạng lo âu, sợ hãi, căng thẳng, nhìn nhưng không thấy; có các ảo giác, ảo thanh... nên hay có các phản ứng tự vệ nguy hiểm cho người xung quanh. Hai là các rối loạn về thần kinh: toàn thân run lập cập, nói lắp bắp ngắc ngứ, đi loạng choạng nên rất dễ vấp ngã gây chấn thương sọ não, gãy xương, vỡ tạng... Nặng hơn, có bệnh nhân còn lên cả cơn co giật như động kinh. Tình trạng rối loạn ý thức thường tăng lên về chiều tối.

Ngoài ra, người bị sảng run còn có các rối loạn thần kinh thực vật trầm trọng như ra mồ hôi đầm đìa như tắm ngay cả khi nghỉ ngơi, khát nước, da tái, kém đàn hồi, đái ít, buồn nôn, nôn, đau bụng, đi lỏng, sốt, tim đập nhanh, huyết áp không ổn định... Một số rất ít trường hợp sảng run tự thuyên giảm sau vài ngày. Phần lớn trường hợp nếu không điều trị sẽ tiến triển xấu; các rối loạn ngày càng trầm trọng, khiến người bệnh có nguy cơ tử vong.
(bệnh gout)
Bệnh gút: Lượng cồn nhiều là một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh gút. Ban đầu, các chất cồn dư thừa, tích tụ lại sau nhiều lần quá chén sẽ gây ra những trục trặc cho quá trình trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng. Sự tích tụ chất này trong các ổ khớp sẽ dẫn đến bệnh gút, hay còn gọi là bệnh thống phong, phá huỷ mạn tính khớp, gây nên các cơn viêm khớp thống phong cấp với các biểu hiện sưng đỏ và đau nhức. Uống liên tục rượu mạnh sẽ làm gia tăng lượng axít uric trong máu. Bệnh gút nếu để xảy ra biến chứng thì người bệnh khó tránh bị tổn thương thận, có thể gây sỏi thận.
Bệnh tim mạch: Tim cũng có cấu tạo là một loại cơ, mà các loại đồ uống có nồng độ cồn cao làm suy yếu các cơ nên đương nhiên sẽ làm suy yếu tim mạch. Tim sẽ không thể bơm máu đi một cách hiệu quả như bình thường. Nồng độ cồn càng cao, tác động lên tim càng lớn, chúng làm hẹp các mạch máu và tăng áp lực trong máu, buộc tim phải hoạt động mạnh hơn. Ngoài ra chúng còn gây ra chứng rối loạn nhịp tim.
Bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng: Sau khi được đưa vào cơ thể, dạ dày là trạm dừng chân đầu tiên của cồn. Chỉ trong vòng 5 phút, 20% quân số sẽ lập tức xâm nhập vào máu bằng cách trượt đi giữa các tế bào biểu mô sản xuất chất nhày. Tại đây, cồn sẽ làm suy yếu các biểu mô bảo vệ dạ dày, do đó tăng nguy cơ mắc các bệnh viêm nhiễm, ợ nóng, viêm loét và chảy máu.
Chứng nghiện rượu ngoài ra còn ảnh hưởng đến toàn gia đình. Việc dùng vũ lực đối với người chung sống hay con cái có thể là áp lực rất lớn lên cuộc sống gia đình. Thường hay dẫn đến ly dị. Con cái của những người nghiện rượu sau này thường hay có những kiểu cách, hành vi nhất định và đặc biệt là có nhiều nguy cơ trở thành nghiện hay gắn bó với một người nghiện rượu.
Theo ThS. Hà Hùng Thủy (Sức khỏe & Đời sống)
Continue Reading | nhận xét

Gút và tăng uric trong máu (Phần 2)

Gút được điều trị ra sao ? 
- Việc ngăn ngừa những cơn gút cấp cũng quan trọng như việc điều trị viêm khớp cấp. Việc ngăn ngừa gút cấp liên quan với việc duy trì đủ dịch nhập, giảm cân, thay đổi chế độ ăn, giảm uống ruợu, và dùng thuốc giảm acid uric.
(bệnh gout)

- Duy trì việc nhập nước đầy đủ cũng giúp ngăn ngừa những cơn gút cấp. Cung cấp dịch đầy đủ cũng giúp ngăn ngừa sự hình thành sỏi thận trong những bịnh nhân gút. Rượu có tính lợi tiểu làm cho bịnh nhân mất nước mà điều này góp phần tạo ra cơn gút cấp.Rượu cũng ảnh hưởng đến chuyển hóa acid uric và gây ra tăng acid uric.
Những thay đổi trong chế độ ăn giúp làm giảm acid uric trong máu. Vì purin bị biến đổi thành uric nên tránh những thức ăn có purin. Những thức ăn có nhiều purin bao gồm những loại giáp xác ( tôm, cua…), gan, não, thận động vật và bánh mì ngọt.
- Giảm cân có thể giúp ích trong việc giảm những đợt gút tái phát. Cách tốt nhất cho việc này là giảm chế độ ăn mỡ và thu nạp năng lượng kết hợp với chương trình tập thể dục đều đặn.
-Thuốc điều trị gút có 3 mặt. Ðầu tiên, thuốc giảm đau như acetaminophen (paracetamol) hoặc những thuốc giảm đau mạnh hơn được dùng. Thứ 2, thuốc kháng viêm như NSAIDS, colchicine, và corticosteroids được dùng để giảm viêm. Cuối cùng, thuốc làm phá vỡ sự chuyển hóa gây tăng acid uric và gút. Ðiều này có nghĩa là điều trị sao cho giảm acid uric trong máu.
- NSAIDS như indomethacin (Indocin) và naproxen(Naprosyn) là thuốc kháng viêm có hiệu quả trong gút cấp. Những thuốc này được giảm liều sau khi giải quyết viêm khớp. Tác dụng phụ bao gồm khó chịu bao tử, loét, ngay cả xuất huyết đường tiêu hóa. Những bịnh nhân có tiền sử dị ứng với aspirin hoặc polyp mũi nên tránh dùng thuốc NSAIDS vì sẽ có nguy cơ phản ứng phản vệ.
- Colchicine được dùng trong bịnh gút, thường bằng đường uống nhưng cũng có thể được cho bằng đường tĩnh mạch. Thuốc uống được cho mỗi một hoặc hai giờ cho đến khi cải thiện được triệu chứng hoặc bịnh nhân có tác dụng phụ như tiêu chảy nặng. Những tác dụng phụ thường khác của colchicine là buồn nôn và ói.
- Corticosteroids như prednisone là thuốc kháng viêm mạnh được dùng trong thời gian ngắn đối với bịnh gút. Chúng có thể cho trực tiếp bằng đường uống hoặc chích vào khớp viêm. Nó có thể cho với những bịnh nhân có vấn đề về thận, gan hay đường tiêu hóa. Sử dụng lâu dài corticosteroids thì không được khuyến khích vì tác dụng phụ trầm trọng của nó.
- Cùng với thuốc điều trị những cơn gút cấp thì những thuốc khác được dùng trong một thời kỳ dài để giảm mức acid uric. Hạ thấp mức acid uric trong máu là giảm nguy cơ gút tái phát, sỏi thận, bịnh thận cũng như giải quyết sự lắng đọng thành tophi.Thuốc làm thấp acid uric trong máu bằng cách hoặc làm tăng bài tiết nó qua thận hoặc làm giảm tạo thành acid uric từ purin trong thức ăn. Vì một số bịnh nhân có acid uric trong máu tăng nhưng không phát triển những cơn gút hoặc sỏi thận, vì thế có điều trị kéo dài với thuốc hạ thấp acid uric hay không tùy theo từng cá nhân cụ thể.
- Probenecid (Benemid) và sulfinpyrazone (Anturane) là thuốc thường được dùng để giảm acid uric bằng cách tăng thải acid uric qua thận. Trong một số trường hợp hiếm thì thuốc này có thể gây sỏi thận vì thế nó nên tránh dùng trong những bịnh nhân có tiền sử bị sỏi thận. Khi uống thuốc này nên uống thêm nhiều nước nhằm giúp thoát nhanh của acid uric ra khỏi đường niệu, tránh hình thành sỏi.
- Allopurinol(Zyloprim) hạ thấp acid uric trong máu bằng cách ngăn hình thành acid uric. Nó ngăn chặn việc biến đổi purin trong thức ăn thành acid uric. Những thuốc này nên cẩn thận trong những bịnh nhân có chức năng thận kém cũng như có nguy cơ phát triển phản ứng phụ như mẫn đỏ và tổn thương gan.
- Những thuốc hạ thấp acid uric như allopurinol (Zyloprim) tránh dùng cho những bịnh nhân đang có cơn gút cấp (trừ khi họ đang dùng nó rồi). Vì người ta chưa biết tại sao khi dùng thuốc này trong cơn cấp thì làm tình trạng viêm khớp trở nên tệ hơn. Tuy nhiên, những thuốc làm hạ acid uric trong máu thường dùng lúc tình trạng viêm khớp cấp đã được giải quyết. Còn nếu bịnh nhân đang dùng thuốc này rồi thì họ nên được duy trì ở liều đang dùng trong suốt thời gian có cơn gút cấp. Trong một số bịnh nhân tăng liều thuốc hạ thấp acid uric có thể thúc đẩy cơn gút cấp. Ở một số bịnh nhân giảm liều colchicine có thể ngăn ngừa được cơn gút cấp.
- Những cách làm tại nhà giúp giảm triệu chứng của cơn gút cấp bao gồm nghỉ ngơi, nâng cao chi có khớp bị viêm. Chườm đá có thể giúp giảm đau và giảm viêm. Bịnh nhân nên tránh dùng những thuốc có chứa aspirin vì chúng ngăn ngừa tiết acid uric.
Tương lai đối với gút và tăng acid uric trong máu ra sao ?
- Nhiều nghiên cứu đang tiếp tục phát triển trong nhiều lãnh vực liên quan với gút và tăng acid uric trong máu. Mới đây những nhà khoa học cho rằng, ăn nhiều protit động vật làm tăng nhẹ nguy cơ bịnh gút. Những nghiên cứu khác thì cho rằng chế độ ăn nhiều canxi giúp tránh được những cơn gút. Những thuốc mới làm gia tăng thải acid uric trong nước tiểu (như benzbromarone) đang được đánh giá trong những thử nghiệm lâm sàng trên bịnh nhân.
Việc áp dụng những thuốc này để điều trị những cơn gút cấp và mãn thì vẫn còn cần phải nghiên cứu thêm nữa. Những nhà khoa học sẽ tiếp tục phát triển các thuốc ít độc và hiệu quả hơn trong việc chống lại căn bệnh do  "trừng phạt của tuổi tác gây ra" này.
Sơ lược về gút và tăng acid uric trong máu.
Viêm đau khớp của bịnh gút do sự lắng đọng những tinh thể acid uric trong mô khớp.
Xu hướng phát triển gút và tăng acid uric trong máu là do di truyền.
Gút và tăng acid uric có thể được thúc đẩy bởi béo phì, lên cân, uống rượu, cao huyết áp, bất thường về chức năng thận, và thuốc.
Cơn viêm khớp do thuốc có thể bị thúc đẩy bởi sự mất nước, chấn thương, sốt,  ăn nhiều, uống nhiều rượu hoặc mới được phẫu thuật.
Hầu hết những test chẩn đoán xác định gút là tìm ra những tinh thể acid uric trong khớp, dịch và mô cơ thể.
Ðiều trị những cơn viêm khớp do gút khác với điều trị tăng acid uric trong máu.
bacsygiadinh.com
Continue Reading | nhận xét

Gút và tăng uric trong máu (Phần 1)

Gút và tăng acid uric trong máu là gì ?
- Gút là một tình trạng y khoa được đặc trưng bởi tăng mức acid uric một cách bất thường trong máu, những đợt viêm khớp tái phát, lắng đọng những tinh thể acid uric cứng trong và quanh khớp, giảm chức năng thận và sỏi thận. 

(Bệnh gout)
                                                        
- Gút có đặc điểm duy nhất là một trong những bịnh được chẩn đoán thường xuyên qua khai thác bịnh sử. Nó thường liên quan đến di truyền về một sự bất thường trong quá trình xử lý acid uric trong cơ thể con người. Acid uric là sản phẩm phân hủy của purines có trong thức ăn. Một sự di chuyển bất thường của acid uric có thể gây ra viêm đau khớp (cơn gút), sỏi thận, và tắc những ống lọc trong thận (do những tinh thể acid uric) dẫn đến suy thận. Nói một cách khác bịnh nhân có thể có tăng acid uric trong máu nhưng không có viêm khớp hoặc vấn đề về thận. Chữ gút thường được sử dụng liên quan với những cơn viêm đau khớp.
Ai bị ảnh hưởng ?
- Xấp xỉ khoảng 1 triệu người Mỹ bị những cơn gút. Tỉ lệ nam:nữ là 9:1. Ở nam bịnh gia tăng sau tuổi dậy thì và đạt đỉnh điểm ở tuổi 75. Ở nữ thì thường xảy ra sau mãn kinh
-  Trong khi tăng acid uric chỉ ra có liên quan đến tăng nguy cơ về gút, nhưng mối liên hệ giữa 2 yếu tố này chưa rõ ràng. Nhiều bịnh nhân có tăng acid uric nhưng không phát triển gút trong khi những người khác có gút tái đi tái lại nhiều lần nhưng không có tăng acid uric trong máu. Dân số nam của Mỹ có đến 10% là tăng acid uric trong máu. Tuy nhiên, chỉ một số nhỏ những bịnh nhân này bị gút.
- Viêm đau khớp do gút thường là một cơn đau dữ dội với sự khởi phát nhanh của viêm khớp. Viêm khớp do sự kết tủa của những tinh thể lắng đọng acid uric trong dịch khớp và bao khớp. Viêm khớp xảy ra rất trầm trọng khi những bạch cầu làm lắng đọng những tinh thể acid uric và phóng thích những chất viêm gây đau, nóng và đỏ của khớp.
Những yếu tố nguy cơ đối với viêm khớp trong gút là gì ?
- Ngoài yếu tố vận chuyển bất thường acid uric trong máu là do di truyền, những yếu tố khác là béo phì, quá trọng, đặc biệt là những người trẻ, uống rượu trung bình đến nặng, cao huyết áp và chức năng thận bất thường. Những thuốc như  lợi tiểu thiazide, aspirin liều thấp, niacin, cycloporine, thuốc lao (pyrazinamide và ethambutol) và những thuốc khác cũng làm tăng cao acid uric trong máu và dẫn đến bịnh gút.

Hơn nữa, những bịnh mà dẫn đến sự tạo thành acid uric thái quá trong cơ thể, ví dụ như bịnh bạch cầu, lymphoma, và những rối loạn về hemoglobin cũng có nguy cơ xuất hiện gút.

Một điều lý thú là những nghiên cứu mới đây chứng minh có sự gia tăng những người bị gút có mức hocmon tuyến giáp thấp.

- Trong những bịnh nhân với nguy cơ phát triển bịnh gút, những trạng thái dự đoán những cơn gút cấp. Ðó là tình trạng mất nước, chấn thương khớp, sốt, lặn lâu, uống nhiều rượu, và mới phẫu thuật. Những cơn gút khởi phát bởi phẫu thuật mới đây có thể  liên quan với những thay đổi về cân bằng dịch trong cơ thể do quá trình uống nước không liên tục trong việc chuẩn bị và sau phẫu thuật.

Những triệu chứng của gút là gì ?
Khớp bàn-ngón chân cái là vị trí thường gặp nhất trong những cơn gút cấp. Những khớp khác cũng bị ảnh hưởng bao gồm cổ chân, đầu gối, cổ tay, ngón tay, khuỷu. Cơn gút cấp được đặc trưng bởi việc khởi phát nhanh những cơn đau trong những khớp bị ảnh hưởng, sau đó là sưng nóng, đỏ và đau. Ðau rất khủng khiếp vì thế ngay cả việc đắp mền ở vùng da có khớp viêm cũng không thể được.

Người bịnh có thể có sốt trong cơn gút cấp. Những cơn đau này thường lui dần và khỏi dù có hoặc không dùng thuốc. Trong những trường hợp hiếm, cơn gút có thể kéo dài vài tuần. Ða số những bịnh nhân gút sẽ bị những cơn gút tái phát qua nhiều năm. 

Những tinh thể acid uric có thể lắng đọng trong những túi nhỏ, dịch quanh khớp. Những tinh thể urat này có thể kích thích trong bao khớp dẫn đến đau và sưng quanh khớp, được gọi là viêm bao khớp. Trong những trường hợp hiếm, gút dẫn đến một kiểu viêm khớp mãn  giống như viêm đa khớp dạng thấp.  

Trong bệnh gút mãn, có những nốt do tinh thể acid uric lắng đọng (tophi) trong những vùng mô mềm khác nhau của cơ thể. Chúng thường được tìm thấy nhất là những nốt cứng tròn quanh ngón tay, ở đầu khuỷu và quanh ngón cái, nhưng tophi có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu trong cơ thể. Chúng cũng được tìm thấy trong những vùng ít gặp như tai, dây thanh âm, hoặc hiếm hơn là quanh tủy sống.

Viêm khớp trong gút được chẩn đoán như thế nào ?
- Gút được nghi ngờ khi bịnh nhân khai có những cơn viêm đau khớp lập đi lập lại ở khớp bàn ngón. Kế đó là khớp cổ chân và gối. Gút thường chỉ bị mỗi lần một khớp trong khi ở những bệnh khác như lupus, viêm đa khớp dạng thấp, thường bị nhiều khớp cùng một lúc.

- Test có giá trị nhất trong gút là xét nghiệm tinh thể acid uric lấy được khi chọc khớp. Chọc khớp được làm với gây tê tại chỗ, kỹ thuật vô trùng, dịch khớp được rút ra từ khớp viêm bằng cách sử dụng kim chích. Sau đó tìm tinh thể acid uric trong dịch khớp và  tìm vi trùng. Những tinh thể acid uric giống như cây kim, óng ánh được tìm thấy dưới kính hiển vi có ánh sáng cực tím. Nó cũng được chẩn đoán bằng tìm thấy những tinh thể urate từ những chất lấy ra ở tophi và bao khớp viêm.

Một số bịnh nhân có tiền sử và triệu chứng của gút có thể được điều trị thành công và được chẩn đoán là gút mà không cần chọc khớp. Tuy nhiên, cần làm test để có chẩn đoán xác định vì có nhiều tình trạng viêm khớp giống gút. Nó bao gồm viêm khớp do những tinh thể khác gọi là giả gút, viêm khớp trong bịnh vẩy nến, viêm đa khớp dạng thấp và ngay cả nhiễm trùng.
X-quang đôi khi có ích và có thể chỉ ra sự lắng đọng những tinh thể tophi và tổn thương xương do viêm khớp nhiều lần. X-quang cũng có tác dụng theo dõi những ảnh hưởng của gút mãn tính lên khớp. 
bacsigiadinh
Continue Reading | nhận xét

Cơn Gout cấp tính

Cơn gút cấp thường xảy ra sau bữa ăn có quá nhiều thịt (nhất là loại có nhiều purin như thịt chó, nội tạng), sau khi uống nhiều rượu. Cảm xúc mạnh, lao động nặng, đi lại nhiều, chấn thương (kể cả chấn thương nhỏ như đi giày chật), nhiễm khuẩn... cũng là những yếu tố làm cơn đau xuất hiện.

Cơn gút cấp tính là một trong các biểu hiện lâm sàng của bệnh gút - một bệnh xảy ra do rối loạn chuyển hóa axit uric trong cơ thể, làm tăng nồng độ axit uric trong máu, dẫn đến lắng đọng natri urat trong khớp, thận và tổ chức dưới da, gây đau. Cơn gút cấp tính lần đầu thường xảy ra ở lứa tuổi 35-55, hay gặp ở nam giới. Nó đến đột ngột vào ban đêm, gây đau khớp, đa số là khớp bàn - ngón chân cái. Khớp sưng to, đỏ, phù nề, căng bóng, nóng, đau dữ dội và tăng dần, va chạm nhẹ cũng rất đau, thay đổi mọi tư thế đều không dịu đi.

Cơn đau kéo dài nhiều ngày, thường là 5-7 ngày, sau đó các dấu hiệu của viêm giảm dần. Trong cơn đau, người bệnh có thể sốt vừa hoặc sốt nhẹ, mệt mỏi, nước tiểu ít và đỏ. Cơn gút cấp tính dễ tái phát, thông thường 1-2 cơn mỗi năm, sau đó khoảng cách giữa các cơn ngắn lại, nhưng cũng có thể tới trên 10 năm mới tái phát.

Trong điều trị bệnh gút, chế độ ăn rất quan trọng; trong mọi bữa đều không nên ăn quá mức. Với những người đã tăng axit uric (trên 70 mg/l), cần tránh những bữa ăn có quá nhiều purin, người béo phải dùng chế độ giảm calo. Không uống rượu, uống nhiều nước (2-4 lít/ngày), nhất là loại nước có nhiều bicarbonat như nước khoáng.

Khi bị cơn gút cấp tính, phải dùng ngay thuốc chống viêm. Thuốc có hiệu lực tốt nhất là colchicin, uống 1 viên 1 mg x 2-3 lần trong ngày đầu (tối đa 4 viên); 1 viên x 2 lần trong ngày thứ hai và 1 viên/ngày trong 3 ngày tiếp theo. Liều duy trì để tránh cơn tái phát là 1 viên mỗi ngày, uống trong 3 tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc dài hơn. Những người suy gan, suy thận, suy tủy xương cần thận trọng khi dùng thuốc và phải được sự theo dõi chặt chẽ của thày thuốc.

Ngoài colchicin, có thể dùng phenylbutazon hoặc indomethacin tuy chúng tác dụng có kém hơn. Những thuốc này cũng có tác dụng phụ không tốt, cần được thày thuốc hướng dẫn cụ thể.
Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Continue Reading | nhận xét

Nguyên nhân gây bệnh Gout

Gout là một bệnh rối loạn về chuyển hóa liên quan đến việc tăng sản xuất hoặc giảm đào thải chất acid uric trong cơ thể. Có thể nói nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gout là acid uric, một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của purin. Ở người bình thường, lượng acid uric trong máu được duy trì ở mức cố định: 5mg% ở nam và 4mg% ở nữ, tùy độ tuổi và có sự thay đổi. Để mức acid uric cân bằng hàng ngày, acid uric được thải ra ngoài chủ yếu theo đường thận.
 
qua nước tiểu và một phần qua phân và các đường khác.
 
Một lý do nào đó, hàm lượng purin trong cơ thể tăng, quá trình chuyển hóa chúng thành acid uric tăng. Khi cơ thể tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu quá ít thì nồng độ acid uric trong máu tăng lên, sự chuyển hóa acid uric thành muối urat tăng theo dẫn tới sự lắng đọng những tinh thể muối urat sắc nhọn hình kim tại các khớp, sụn, xương, tổ chức dưới da, gây ra viêm sưng khớp và biểu hiện triệu chứng tại những vị trí lắng đọng. 

Nguyên nhân gây tăng lượng acid uric

 Acid uric lắng tụ tại khớp 
 Tăng bẩm sinh: bệnh Lesch - Nyhan: do thiếu men HGPT nên lượng acid uric tăng cao ngay từ nhỏ, bệnh có các biểu hiện về toàn thân, thần kinh, thận và khớp. trường hợp này rất hiếm và rất nặng.

Bệnh gout nguyên phát: là bệnh gắn liền với các yếu tố di truyền và cơ địa, những bệnh nhân này có quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng nhiều gây tăng acid uric. Đây cũng là nguyên nhân chủ yếu của bệnh.
 
Bệnh gout thứ phát: acid uric trong máu có thể tăng thứ phát do những nguyên nhân sau :
 
- Do tiêu thụ những loại thức ăn có chứa nhiều purin (gan, lòng, thịt, cá, nấm, tôm, cua), uống nhiều rượu, bia. Thực ra đây chỉ là những tác nhân phát động bệnh hơn là nguyên nhân trực tiếp.
 
- Do trong cơ thể tăng cường thoái giáng purin nội sinh (phá hủy nhiều tế bào, tổ chức) liên quan đến các bệnh lý huyết học  như bệnh đa hồng cầu, leucemie kinh thể tủy, hodgkin, sarcom hạch, đa u tủy xương, hoặc do sử dụng những thuốc diệt tế bào để điều trị các bệnh u ác tính. 
 
- Do giảm thải acid uric qua thận: viêm thận mạn tính, suy thận làm cho quá trình đào thải acid uric giảm và ứ lại gây bệnh. 
 
Vai trò của acid uric trong viêm khớp
 
Trong bệnh gout, tinh thể urat monosodic lắng đọng ở màng hoạt dịch sẽ gây nên một loạt các phản ứng:  

- Hoạt tác yếu tố Hageman tại chỗ từ đó kích thích các tiền chất gây viêm Kininogen và Kallicreinogen trở thành kinin và kallicrein gây phản ứng viêm ở màng hoạt dịch. 

- Từ phản ứng viêm, các bạch cầu sẽ tập trung tới, bạch cầu sẽ thực bào các vi tinh thể urat rồi giải phóng các men tiêu thể của bạch cầu (lysozim). Các men này cũng là một tác nhân gây viêm rất mạnh. 

- Phản ứng viêm của màng hoạt dịch sẽ làm tăng chuyển hóa, sinh nhiều acid lactic tại chỗ và làm giảm độ pH, môi trường càng toan thì urat càng lắng đọng nhiều và phản ứng viêm ở đây trở thành một vòng khép kín liên tục, viêm sẽ kéo dài. Do đó, trên thực tế thấy hai thể bệnh gout: Thể bệnh gout cấp tính, quá trình viêm diễn biến trong một thời gian ngắn rồi chấm dứt, hay tái phát. Thể bệnh gout mạn tính quá trình lắng đọng urat nhiều và kéo dài, biểu hiện viêm sẽ liên tục không ngừng.
Continue Reading | nhận xét

Chế độ ăn uống cho bệnh nhân gút


TS.BS. Lê Anh Thư
 
Chế độ ăn uống của người tăng acid uric máu và bệnh gout
Không dùng 
Không ăn phủ tạng động vật.
 Không uống nhiều rượu mạnh. Không ăn các thức ăn chứa nhiều purine như: phủ tạng động vật: tim, gan, thận, lá lách, óc..., hột vịt, gà lộn, trứng cá, cá trích, cá đối, cá mòi. Không ăn mỡ động vật, không ăn đường. 
Dùng hạn chế
Hạn chế protid (<1g protein/kg/ ngày tương đương < 200g thịt nạc mỗi ngày).
 
Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) đồ biển (tôm, cua…).
 
Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) các loại đậu hạt, măng tây.
 
Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) chocolate, cacao, trà, cà phê.
 
Dùng nhiều
Các loại rau xanh, trái cây tươi.
 
Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.
 
Các loại ngũ cốc.
 
Sữa, trứng.
 
Chế độ sinh hoạt
 
Chống béo phì.
 
Tăng cường vận động.
 
Tránh stress, tránh gắng sức, tránh lạnh đột ngột…
 
Chế độ ăn uống có thay thế được thuốc không?
 
Đối với bệnh Gout
 
Trong đa số trường hợp, chế độ ăn uống góp phần điều trị cho bệnh Gout và các bệnh kèm theo (cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu…) chứ không thể thay được thuốc. Thực hiện tốt chế độ ăn uống có thể giảm bớt số lượng thuốc, số loại thuốc cần dùng, giảm bớt các hậu quả xấu của bệnh.
Chế độ ăn uống được sử dụng để thay thế thuốc trong một số ít trường hợp, người bệnh không dùng được các thuốc làm hạ acid uric (dị ứng thuốc, suy thận, suy gan…).
 
Đối với tình trạng tăng acid uric máu
Chế độ ăn uống và chế độ sinh hoạt sẽ giúp phòng ngừa bệnh Gout, làm giảm số người trở thành bệnh nhân Gout.
 
Như vậy, chế độ ăn uống không thể thay thế được các thuốc điều trị bệnh Gout, nhưng có một vai trò quan trọng trong điều trị, góp phần làm bệnh Gout và các bệnh kèm theo dễ kiểm soát hơn, giảm bớt liều thuốc phải dùng, giảm bớt số thuốc phải dùng. Chế độ ăn uống càng quan trọng hơn khi người bệnh bị dị ứng với các thuốc làm giảm acid uric máu, hoặc vì một lý do nào đó không sử dụng được các thuốc này. Chế độ ăn uống còn là biện pháp chính, không thể thiếu được trong việc phòng ngừa bệnh Gout cho các đối tượng có tăng acid uric máu đơn thuần.
 
Các bệnh rối loạn chuyển hóa ở người thường đi kèm với nhau, ngày càng gia tăng và đang là một hiểm họa lớn cho loài người trong thế kỷ 21. Hội chứng chuyển hóa kinh điển gồm 4 biểu hiện: béo phì, cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Nay thêm một biển hiện thứ 5 là tăng acid uric máu, nói cách khách, các bệnh nhân béo phì, cao huyết áp, bệnh mạch vành... rất dễ bị gout và ngược lại, bệnh nhân gout thường mắc bệnh các bệnh béo phì, xơ mỡ động mạch, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh mạch vành.
Continue Reading | nhận xét

Triệu chứng của gout mạn tính

T
Gout mạn tính biểu hiện bằng dấu hiệu nổi các cục u (tôphi) và viêm đa khớp mạn tính, do đó còn được gọi là “gout lắng đọng”. Gout mạn tính có thể tiếp theo gout cấp tính. Nhưng phần lớn là bắt đầu từ từ tăng dần không qua các đợt cấp. * Triệu chứng lâm sàng ở khớp:
Bàn tay bệnh nhân Gout mạn tính
  - Nổi u cục (tophi): là hiện tượng lắng đọng urat ở xung quanh khớp, ở màng hoạt dịch, đầu xương, sụn...

+ Vị trí: u cục (tôphi) thấy ở trên các khớp bàn ngón chân cái, các ngón khác, cổ chân, gối, khuỷu, cổ tay, bàn ngón tay và đốt ngón gần, có một vị trí rất đặc biệt là trên sụn vành tai. Chưa thấy ở háng, vai và cột sống. 

+ Tính chất: kích thước to nhỏ không đồng đều, từ vài milimet đến nhiều centimet đường kính, lồi lõm, hơi chắc hoặc mềm, không di động do dính vào nền ở dưới, không đối xứng (2 bên) và không cân đối, ấn vào không đau, được bọc bởi một lớp da mỏng, phía dưới thấy cặn trắng như phấn, đôi khi da bị loét và dễ chảy nước vàng và chất trắng như phấn. 
 
- Viêm đa khớp: Các khớp nhỏ và nhỡ bị viêm là bàn ngón chân và tay, đốt ngón gần, cổ tay, gối, khuỷu, viêm có tính chất đối xứng, biểu hiện viêm thường nhẹ, không đau nhiều, diễn biến khá chậm, các khớp háng, vai và cột sống không bị tổn thương.
 

- Biểu hiện ngoài khớp :
 
+ Urat có thể lắng đọng ở thận dưới hai hình thức :
 
Lắng đọng rải rác ở nhu mô thận: hoặc không thể hiện triệu chứng gì, chỉ phát hiện qua giải phẫu bệnh, hoặc gây viêm thận bể thận.
 
Gây sỏi đường tiết niệu: sỏi acid uric ít cản quang, chụp thường khó thấy, phát hiện bằng siêu âm, chụp U.I.V. Sỏi thận dễ dẫn tới viêm nhiễm, suy thận. Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tiên lượng của bệnh. 

+ Urat có thể lắng đọng ở một số cơ quan ngoài khớp như:
 
Gân, túi thanh dịch, có thể gây đứt hoặc chèn ép thần kinh (hội chứng đường hầm).
 
Ngoài da và móng tay móng chân: thành từng vùng và mảng dễ nhầm với bệnh ngoài da khác  (vẩy nến, nấm).
 
Tim: urat có thể lắng đọng ở màng ngoài tim, cơ tim, có khi cả van tim nhưng rất hiếm.
 
* Xét nghiệm và X quang:
 
- Xét nghiệm:
 
+ Tốc độ lắng máu tăng trong đợt tiến triển của bệnh. Các xét nghiệm khác không có gì thay đổi.
 
+ Acid uric máu tăng trên 7mg% (trên 416 micromol/l).
 
+ Acid uric niệu/24h: bình thường từ 400-450mg, tăng nhiều trong gout nguyên phát; giảm rõ với gout thứ phát sau bệnh thận.
 
Dịch khớp có biểu hiện viêm rõ rệt (lượng muxin giảm, bạch cầu tăng nhiều). Đặc biệt thấy những tinh thể urat monosodic nằm trong hoặc ngoài tế bào.

+ X quang: Dấu hiệu quan trọng nhất của bệnh là khuyết xương hình hốc ở các đầu xương, hay gặp ở xương đốt ngón chân, tay, xương bàn tay, chân, đôi khi ở cổ tay, chân, khuỷu và gối. Khuyết lúc đầu ở dưới sụn khớp và vỏ xương, như phần vỏ được thổi vào, bung ra (hình lưỡi liềm), khe khớp hẹp rõ rệt. Sau cùng hình khuyết lớn dần và tạo nên hình hủy xương rộng xung quanh có những vết vôi hoá. Nếu bệnh tiến triển lâu có thể thấy những hình ảnh thoái hóa thứ phát (hình gai xương).
Continue Reading | nhận xét

Các loại thuốc thế hệ mới điều trị bệnh Gout

Sau gần 3 năm nghiên cứu và điều trị chuyên sâu về Gout, từ giữa năm 2010 đến nay, Viện Gút đã điều trị thành công cho những bệnh nhân Gout mạn tính cùng lúc bị nhiều biến chứng nguy hiểm như : suy thận, suy giảm chức năng gan, biến dạng khớp do các u cục tophi, phù nề giữ nước nhiều năm, nhiễm trùng lâu ngày trên những cục tophi bị vỡ, thoái hóa khớp và loãng xương nặng do dùng corticod dài ngày...Sau một thời gian điều trị tích cực, các biến chứng đã bị đẩy lùi, tình trạng sức khỏe của các bệnh nhân được cải thiện toàn diện. Để đạt được kết quả đột phá trên, Viện Gút đã hợp tác với các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu sản xuất các loại thuốc có nguồn gốc hoàn toàn từ thảo dược của Việt Nam kết hợp điều trị Gout và các bệnh liên quan Gout. 
 
Các loại thuốc thế hệ mới 100% tinh chất thảo dược đã được áp dụng điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân Gout mãn tính bị kèm theo nhiều biến chứng  
 
Hiện các loại thuốc này không bán rộng rãi trên các nhà thuốc mà được áp dụng cho những bệnh nhân điều trị ngoại trú có kiểm soát của 2 Trung tâm điều trị Gút tại TP.Hồ Chí Minh và TP. Hải Dương 
 
Theo ( Viện Gout )
 
Continue Reading | nhận xét

Những điều bệnh nhân Gút cần biết

Gần đây nhiều bệnh nhân Gút thông báo đã liên hệ nhầm với một số địa chỉ ở Hà Nội tự nhận là chi nhánh của Viện Gút TP Hồ Chí Minh, Chúng tôi xin giải đáp như sau :
 
Viện Gút TP. Hồ Chí Minh không có chi nhánh ở Hà Nội, mà chỉ có một Trung tân điều trị Gút tại 98 Yên Thế, Phường 2, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh và một trung tâm điều trị Gút tại D22 - 23 Phố Hồng Châu, thành phố Hải Dương. 

Ngoài ra hàng tháng các bác sĩ Viện Gút sẽ ra Đà Nẵng 2 ngày để khám trực tiếp cho bệnh nhân Gút khu vực miền Trung. Bệnh nhân có nhu cầu liên hệ trực tiếp qua đường dây nóng 0982.180080.

Bệnh nhân không muốn bị nhầm lẫn thì liên hệ trực tiếp ở các địa chỉ trên.
 
QUAN ĐIỂM ĐIỀU TRỊ TOÀN DIỆN VÀ CÓ KIỂM SOÁT BỆNH GÚT
 
Bệnh nhân Gút khi đăng ký tham gia điều trị theo phương pháp của Viện Gút TP.HCM cần biết rõ về quan điểm điều trị của Viện Gút là gì mới có thể phối hợp điều trị đạt kết quả tốt.
 
Các phương pháp điều trị Gút thông thường lâu nay chỉ tập trung điều trị chống viêm, giảm đau, tăng đào thải hoặc giảm tổng hợp acid uric, kiểm soát ăn uống để kiểm soát cơn Gút cấp tái phát. Với phương pháp điều trị này chúng ta mới chỉ giải quyết được triệu chứng hoặc một vài khâu của cơ chế bệnh sinh mà bỏ qua rất nhiều yếu tố liên quan khác của bệnh Gút.
 
Để khắc phục những hạn chế của các phương pháp điều trị gút thông thường lâu nay, Viện Gút TP.HCM áp dụng phương pháp điều trị toàn diện cùng lúc bệnh gút và các bệnh liên quan đến Gút như : Chống viêm, giảm đau trong giai đoạn đầu khi bệnh nhân còn lên cơn gút cấp, giải quyết hậu quả do Gút gây ra cho cơ thể người bệnh, cải thiện phục hồi các cơ quan bị bệnh. Các bệnh kèm theo được quan tâm như : Suy giảm chức năng gan, suy thận do urat, rối loạn mỡ máu, tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp.
 
Điều trị có kiểm soát là yêu cầu cao nhất trong phương pháp của Viện Gút, trong đó bao gồm nhiệm vụ của Viện Gút và nhiệm vụ của bệnh nhân :
 
- Nhiệm vụ của Viện Gút là kiểm soát tác dụng phụ của thuốc đối với cơ thể người bệnh. Do đó các thuốc chống viêm, giảm đau của Tây y Bác sĩ Viện Gút chỉ cho sử dụng trong trường hợp tối cần thiết và không áp dụng các loại thuốc tây y để hạ acid uric máu. Trong điều trị bệnh Gút và các bệnh kèm theo Viện Gút hoàn toàn sử dụng các loại thuốc 100% tinh chất từ thảo dược Việt Nam nên không có tác dụng phụ.
 
- Nhiệm vụ của bệnh nhân :
 
+ Bệnh nhân được điều trị theo phương pháp ngoại trú nên trước điều trị, bệnh nhân phải tham gia chương trình cập nhật kiến thức chung mới chủ động phối hợp với bác sĩ trong suốt quá trình điều trị.
 
+ Bệnh nhân chủ động kiểm soát các tác động ngoại sinh gây ảnh hưởng đến diễn biến điều trị gồm : ăn uống theo tài liệu hướng dẫn, điều chỉnh chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi giữ tinh thần thoải mái. Khi sử dụng các thuốc khác không do Viện Gút cung cấp phải thông báo cho Bác sĩ Viện Gút để kiểm tra tác dụng phụ. Viện Gút không chịu trách nhiệm với những bệnh nhân đang điều trị các bệnh khác ở các cơ sở y tế khác mà không thông báo cho Bác sĩ Viện Gút.
 
+ Thường xuyên thông báo diễn biến cho bác sĩ trong suốt quá trình điều trị.
 
Bệnh nhân ở các tỉnh phía Bắc sẽ khám và điều trị tại Phòng Khám Viện Gút chi nhánh Hải Dương ở D22 - 23 Phố Hồng Châu, Khu Du lịch sinh thái Hà Hải - Phường Lê Thanh Nghị - TP Hải Dương.
 
Bệnh nhân ở các tỉnh phía Nam sẽ khám và điều trị tại Phòng Khám Viện Gút ở 98 Yên Thế - Phường 2, Quận Tân Bình, TP.HCM.
 
Continue Reading | nhận xét

Kết quả đột phá trong điều trị bệnh Gút

Hơn 2600 năm đã qua kể từ khi ông tổ của ngành y là Hypocrat mô tả những biểu hiện của bệnh, câu hỏi “bệnh Gút có chữa khỏi được không” vẫn đang là một thách thức của lịch sử y học thế giới. Thách thức này sẽ không bao giờ có thể vượt qua nếu chúng ta không dũng cảm nhìn nhận lại những sai lầm, thiếu sót của các phương pháp điều trị Gút bấy lâu nay.
 
Khi nói đến bệnh Gút hầu như chúng ta đều đổ dồn sự quan tâm tới acid uric. Đối với bệnh nhân Gút, acid uric chỉ là một trong số những chất tham gia vào sự hình thành nên muối urat, kết tủa tại khớp, các tổ chức dưới da, trong ống thận, trong lòng mạch...Dù muối urat đã kết tủa tại khớp, nó cũng chỉ là tác nhân nguy cơ gây ra cơn gút cấp. Còn rất nhiều điều kiện khác mới có thể gây ra cơn Gút cấp. Từ khi tăng acid uric máu đến khi xảy ra cơn Gút cấp đầu tiên thường phải trải qua 10 - 20 năm hoặc lâu hơn. Giai đoạn này người ta chỉ gọi là hội chứng tăng acid uric máu (Hyperuricemia) .
 
Có rất ít người biết rằng acid uric còn là một chất có lợi cho cơ thể, nó được tái chế, tái sử dụng cấu trúc nên các ADN và ARN cho nhân tế bào mới của chúng ta. Hàng ngày acid uric vẫn được sinh tổng hợp từ nhân tế bào, từ tế bào chết, và từ các thức ăn có đạm giàu nhân purin. 
 
Nhưng có lẽ sai lầm lớn nhất là cả những người mới bị Gút và cà những bệnh nhân Gút đã bị biến chứng là chỉ quan tâm giải quyết triệu chứng mà quên mất rằng còn cần phải giải quyết hậu quả do Gút để lại và ngăn chặn các tác nhân ngoại sinh có thể làm cho bệnh Gút tiến triển nhanh hơn. Các tác nhân ngoại sinh ấy từ ăn uống, từ tác dụng phụ của các loại thuốc điều trị nhiều bệnh khác nhau, từ nhiễm độc chì, nhiễm độc asen trong nguồn nước ăn, uống...
 
Không đi vào vết xe đổ của phương pháp điều trị Gút bấy lâu nay, các nhà khoa học của Viện Gút TP.HCM đã tập trung nghiên cứu toàn diện về bệnh Gút, các nguyên nhân về gien di truyền, các yếu tô về men chuyển hóa, và men tổng hợp, về chức năng gan, chức năng thận về nguyên nhân gây kết tủa muối urat và hậu quả do muối urat để lại trên cơ thể người bệnh... Trong thực tiễn điều trị, các bác sĩ của Viện Gút đã rút ra được những kinh nghiệm vô cùng quý báu là không thể điều trị thành công bệnh Gút nếu không chẩn đoán và điều trị tất cả các các bệnh kèm theo Gút. Kinh nghiệm đó đã mang đến sự thành công trong điều trị toàn diện cho hàng ngàn bệnh nhân đã và đang điều trị tại các phòng khám của Viện Gút.
 
Đặc biệt từ đầu năm 2010 đến nay, Viện Gút TP. HCM đã có những bước đột phá khi điều trị và cứu chữa thành công cho những bệnh nhân Gút bị biến chứng nặng sang nhiều bệnh khác nhau như: Suy gan, suy thận, phù nề, giữ nước, nhiễm trùng kéo dài do vỡ tophi, loãng xương, biến dạng xương khớp. Những bệnh nhân này cùng lúc mang nhiều chứng bệnh, bệnh nào cũng nặng, nếu tiếp tục điều trị theo phương pháp cũ, sẽ càng làm cho tình trạng bệnh nặng hơn, nhiều trường hợp có nguy cơ tử vong. Nhiều bệnh nhân đang chuẩn bị vào giai đoạn kết thúc điều tri với việc phục hồi toàn diện hệ thống miễn dịch của cơ thể.
 
Thành công đó dựa trên 2 yếu tố :
- Điều trị toàn diện bệnh Gút và các bệnh kèm theo của Gút.
- Kiểm soát điều trị, ngăn chặn các tác động ngoại sinh làm cho bệnh Gút nặng hơn như : giúp bệnh nhân kiểm soát chế độ dinh dưỡng, chỉ sử dụng trong trường hợp tối cần thiết các thuốc chống viêm giảm đau bằng tây y để tránh tác dụng phụ. Điều trị giải quyết hậu quả và phục hồi các cơ quan bị bệnh hoàn toàn bằng các loại thuốc có gốc từ thảo dược Việt Nam do các nhà khoa học của Viện Gút nghiên cứu và bào chế đã đảm bảo an toàn và hiệu quả.
 
Như lời của PGS Tiến sĩ Phan Văn Các, PGĐ Viện Gút khi trả lời phỏng vấn của Đài truyền hình TP.HCM "Chúng tôi dám đương đầu với thách thức của lịch sử y học thế giới trong bệnh Gút", lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội đi đầu thế giới trong hoạt động điều trị bệnh Gút. Đặc biệt là những bệnh nhân đã bị biến chứng nặng đang sống trong bi quan, tuyệt vọng lần đầu tiên trong lịch sử của bệnh Gút đã có cơ hội để chiến thắng bệnh tật.
 
GS TS Hoàng Khải Lập & PGS TS Phan Văn Các (ngồi thứ 2 và thứ 3 từ trái sang), trong cuộc tọa đàm về những thành công trong điều trị biến chứng của bệnh Gút do Đài TH TP.HCM thực hiện ngày 27/6/2011
 
Một số hình ảnh về bệnh nhân Gút bị biến chứng nặng nề đang điều trị thành công tại Viện Gút
 
Ông Dương Văn Hai, trú tại số nhà 80, đường 49, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, TP.HCM bị bệnh Gút hơn 20 năm, đến Viện Gút từ cuối năm 2009 trong tình trạng bị Gút mạn tính, với nhiều u, cục tophi đã bị vỡ và nhiễm trùng, nhiều cục tophi to gây biến dạng chân tay. Kèm theo Gút là suy thận độ 2, thoái hóa khớp gối, thoái hóa cột sống Những cơn Gút của ông cứ diễn ra liên tục, vào kéo dài. Ông cũng đã điều trị bằng đủ các phương pháp, nhưng càng chữa thì tình trạng bệnh của ông càng nặng hơn. Sau hơn 1 năm điều trị,  những u cục tophi trên 2 bàn chân như gốc cây của ông đã tan và gần trở lại bình thường. Ông không còn bị các cơn đau nhức của Gút và của thoái hóa khớp hành hạ. Tháng 11 và tháng 12 năm 2010 ông đã lên Tây nguyên để thử trong điều kiện thay đổi thời tiết nhưng vẫn không bị tái phát lại. Đặc biệt tình trạng suy thận độ 2 do của ông đã phục hồi hoàn toàn.
 
Bàn chân của Ông Dương Văn Hai đã gần như phục hồi hoàn toàn sau hơn 1 năm điều trị theo phương pháp của Viện Gút TP. HCM
 
Bà Phạm Thị Thệ, là một người giúp việc nhà ở TP.HCM, vừa là bệnh nhân Gút mạn tính có nhiều u cục tophi ở tay và chân, vừa bị viêm khớp dạng thấp với hai bàn đã bắt đầu bị biến dạng không co, duỗi được. Bà Thệ đến Viện Gút TP.HCM trong tình trạng rất bi đát do những cơn đau của Gút, của khớp hành hạ liên tục. Đáng lo ngại hơn cả bà bị phù nề giữ nước với khuôn mặt căng tròn và dạn nứt, được xác định là Hội chứng Cushing do dùng Corticoid kéo dài. Bà đến Viện Gút trong tình trạng sốt nóng, lạnh liên tục nếu không có giải pháp điều trị kịp thời trường hợp của bà Thệ có thể bị tử vong. Sau một gần 2 tháng kiên trì chăm sóc, giúp bà giành dật lại sự sống, bà Thệ đã dần bình phục. Sau 3 tháng điều trị, bà đã không còn tình trạng phù nề, cũng không còn xuất hiện các cơn Gút cấp. Đáng mừng là các ngón tay của bà bị co cứng do viêm khớp dạng thấp đã phục hồi và vận động lại bình thường.
 
 Sau hơn 2 tháng điều trị, Bà Thệ đã hết phù nề, các cơn đau của
bệnh Gút và viêm khớp  dạng thấp đã gần như hết hẳn
Ông Hà Văn Chớ ở Thanh Đa là một bệnh nhân gút bị tiến triển nặng khá nhanh. Ông mới chỉ bị cơn Gút cấp lần đầu tiên vào năm 2004 mà khi đến Viện Gút vào tháng 12/2010 ông đã bị nổi u cục tophi khắp chân tay, cứ 4 - 5 ngày ông lại bị lên cơn Gút cấp một lần mỗi cơn kéo dài cả tuần không dứt. Tophi vỡ bên chân trái của ông làm ngón chân gần như đứt dời. Sau hơn 6 tháng điều trị, ngón chân đã bình phục hoàn toàn, các u cục tophi đã nhỏ được rất nhiều, tình trạng đau nhức của ông đã gần như hết hẳn. Những ai đã từng biết ông trước đây đều không khỏi ngạc nhiên vì sự phục hồi kỳ diệu của ông.

Ông Hà Văn Chớ và sự chuyển biến kỳ diệu sau hơn 6 tháng điều trị
 
 
Những loại thuốc thế hệ mới điều trị đặc biệt hiệu quả bệnh Gút và các bệnh kèm theo của Gút
 
                                                               TP. Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2011
                                                                                       Viện Gút
Continue Reading | nhận xét

Những thực phẩm không nên ăn đối với bệnh nhân GOUT



Không ăn thức ăn nhiều purin trong giai đoạn tiến triển: Chế độ ăn hợp lý của người bị bệnh gút là nhằm giảm lượng acid uric để không bị tích lũy thành tinh thể ở các khớp và các tổ chức mềm. Hết sức hạn chế ăn phủ tạng động vật như gan, lòng, cật, tim, tiết; cá trích, cá mòi, trứng cá; thịt đỏ, thịt muối; phô mai; cua; tôm. Một số thực phẩm thực vật cũng có hàm lượng purin tương đối cao như nấm, đậu hạt các loại.

Không dùng thức uống có cồn và chất kích thích: Các nghiên cứu về khẩu phần ăn uống đều khuyên người bị gút hoặc tăng acid uric máu đơn thuần phải kiêng rượu, bia hơi, vang trắng, sâm banh, bia nâu. Tránh ăn những chất kích thích như ớt, cà phê… Nên tránh các buổi liên hoan tiệc tùng. 


Không quên uống nhiều nước: Uống nhiều nước sẽ làm tăng lượng nước tiểu, sẽ đào thải được nhiều acid uric ra ngoài. Nên uống khoảng 2-3 lít/ngày khi đang uống thuốc trị bệnh. Tốt nhất nên uống các loại nước khoáng có nhiều bicarbonat. Nếu không, có thể uống dung dịch natri bicarbonat 3% để kiểm soát huyết thanh, giúp việc đào thải acid uric thuận lợi hơn. 


Không uống các thuốc làm tăng acid uric máu: Đó là các thuốc lợi tiểu nhóm thiazide (hypothiazide), nhóm giảm đau, hạ sốt salicilat (aspirin). Tuyệt đối không dùng các thuốc nhóm corticoid (prednisolon, dexamethason…) vì chúng có thể làm giảm đau nhanh nhưng lại làm tăng acid uric máu, đẩy nhanh bệnh sang thể mạn tính. 


Ngoài chế độ ăn uống, người bị bệnh gút cũng cần tránh các nguy cơ có thể làm xuất hiện bệnh như: làm việc quá sức, nhiễm lạnh, đi giày quá chật, bị nhiễm khuẩn cấp tính hoặc phẫu thuật. 


Gút được xếp vào bệnh của thời đại văn minh. Nó thường gây đau đớn dai dẳng cho người bệnh và là sự báo hiệu nguy cơ bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh thận. Bệnh gút có thể diễn biến tốt nếu dùng đúng các thuốc điều trị và tuân thủ chế độ ăn hợp lý.  

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Continue Reading | nhận xét

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân Gout

Có thể nói nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gút (thống phong) là acid uric. Một trong những biện pháp phòng chống acid uric trong máu tăng cao là dùng các thực phẩm không hoặc ít có nhân purin và có công dụng tăng cường đào thải acid uric qua đường tiết niệu.
 
Những thức ăn không có lợi cho người bị bệnh Gout :
 
Trong cơ thể, acid uric được tạo thành từ ba nguồn: thoái giáng từ các chất có nhân purin do thức ăn đưa vào, thoái giáng các chất có nhân purin từ trong cơ thể và tổng hợp các purin từ con đường nội sinh.
 
Do đó, người có acid uric máu cao nên kiêng hoặc hạn chế các thực phẩm chứa nhiều nhân purin như phủ tạng động vật (gan, thận, não, tụy...), các loại thịt có màu đỏ, các loại hải sản, nấm, đậu... Không dùng các đồ ăn thức uống có tính kích thích như trà đặc, cà phê, rượu trắng, hạt tiêu, hồi, quế, ớt... 
 
Một số thực phẩm có lợi cho bệnh nhân Gout: 
 
Người bị gút nặng, acid uric máu tăng quá cao nên ăn chay theo chu kỳ như ngày ăn táo, ngày ăn dưa chuột, ngày ăn rau xanh để hỗ trợ điều trị bệnh. Nếu ăn táo hoặc dưa chuột mỗi ngày dùng 1,5kg, chia thành 3-4 bữa. Nếu ăn rau xanh mỗi ngày 1,5kg chia thành nhiều bữa dưới các dạng nấu, xào hoặc làm nộm. 
 
Rau cần: cần trồng dưới nước tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt lợi thủy. Cần trồng trên cạn tính mát, vị đắng ngọt, có công dụng thanh nhiệt, khu phong và lợi thấp. Có thể dùng cả hai loại, đặc biệt tốt trong giai đoạn gút cấp tính. Rau cần giàu các sinh tố, khoáng chất và hầu như không chứa nhân purin. Có thể ăn sống, ép lấy nước uống hoặc nấu canh ăn hằng ngày. 
 
Súp lơ: là một trong những loại rau chứa ít nhân purin (mỗi 100g chỉ có dưới 75mg). Theo dinh dưỡng học cổ truyền, súp lơ tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thông tiện nên là thực phẩm thích hợp cho người có acid uric máu cao. 
 
Dưa chuột (Dưa leo): là loại rau kiềm tính. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, dưa chuột tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt, giải độc nên có khả năng bài tiết tích  acid uric qua đường tiết niệu. 
 
Cải xanh: cũng là loại rau kiềm tính, và hầu như không chứa nhân purin. Cải xanh có tác dụng giải nhiệt trừ phiền, thông lợi tràng vị. Sách Trấn nam bản thảo cho rằng cải xanh còn có tác dụng lợi tiểu, rất thích hợp với người bị bệnh gút. 
 
Cà: cà pháo, cà bát, cà tím... đều có tác dụng hoạt huyết tiêu thũng, khứ phong thông lạc, thanh nhiệt chỉ thống. Đây cũng là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin. Nghiên cứu hiện đại cho thấy cà còn có tác dụng lợi niệu ở một mức độ nhất định. 
 
Cải bắp: là loại rau hầu như không có nhân purin,  Sách Bản thảo cương mục thập di cho rằng cải bắp có công dụng "bổ tinh tủy, lợi ngũ tạng lục phủ, lợi quan tiết (có ích cho khớp), thông kinh hoạt lạc" nên là thực phẩm rất tốt cho người có acid uric trong máu cao. 
 
Củ cải: tính mát, vị ngọt, có công dụng lợi quan tiết, hành phong khí, trừ tà nhiệt (Thực tính bản thảo), trừ phong thấp (Tùy tức cư ẩm thực phổ), rất thích hợp với người bị phong thấp nói chung và thống phong nói riêng. Đây cũng là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố, nhiều nước và hầu như không có nhân purin. 
 
Khoai tây: là một thực phẩm kiềm tính, giàu muối kali. Trong thành phần hóa học hầu như không có nhân purin. 
 
Bí đỏ: tính ấm, vị ngọt, công dụng bổ trung ích khí, giảm mỡ máu và hạ đường huyết, là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin, lý tưởng cho người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì và tăng acid uric trong máu. 
 
Bí xanh: tính mát, vị ngọt đạm, có tác dụng thanh nhiệt tiêu đàm, lợi tiểu tiện, giải độc, giảm béo. Là loại thực phẩm kiềm tính, nhiều nước và chứa rất ít nhân purin, có khả năng thanh thải acid uric qua đường tiết niệu khá tốt. 
 
Dưa hấu: tính lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát và lợi tiểu tiện. Trong thành phần có chứa nhiều muối kali, nước và hầu như không có nhân purin. Đây là loại quả đặc biệt tốt cho những người bị gút giai đoạn cấp tính. 
 
Đậu đỏ: còn gọi là xích tiểu đậu, tính bình, vị ngọt chua, có công dụng kiện tỳ chỉ tả, lợi niệu tiêu thũng. Trong thành phần hóa học của đậu đỏ hầu như không có nhân purin, là thực phẩm rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gút. 
 
Lê và táo: hai loại quả tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt sinh tân, chỉ khát trừ phiền. Trong thành phần có chứa nhiều nước, sinh tố, muối kali và hầu như không có nhân purin. Là loại quả kiềm tính, dùng rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gút cấp tính và mãn tính. 
 
Nho: tính bình, vị ngọt, công dụng bổ khí huyết, cường gân cốt và lợi tiểu tiện. Đây cũng là loại quả kiềm tính, nhiều nước, giàu sinh tố và hầu như không có nhân purin. 
 
Sữa bò: là loại thực phẩm bổ dưỡng giàu chất đạm, nhiều nước và chứa rất ít nhân purin. Là thứ nước uống lý tưởng cho bệnh nhân bị bệnh gút cả cấp tính và mãn tính.
Continue Reading | nhận xét

BỆNH GOUT

Bệnh GOUT , dân gian còn gọi là bệnh thống phong, là một bệnh khớp sinh ra do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, dẫn đến tăng acid uric máu.

Khi acid uric máu tăng đến một mức nào đó (mức độ này thay đổi ở từng cá thể), chúng sẽ bị bão hòa ở dịch ngoài tế bào dẫn đến lắng đọng tại các mô, khớp, thận, gây nên các triệu chứng của bệnh gút trên lâm sàng Bệnh thường gặp ở nam giới tuổi trung niên, đặc biệt là ởnhững người béo, ưa uống rượu, ăn chế độ nhiều đạm.

bệnh nhân mắc bệnh Gout

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH GOUT:

Bệnh gout bị gây ra do quá nhiều axit uric trong máu (còn gọi là đa axit uric): trên 420 μmol/L (ở nam) hay 380 μmol/L (ở nữ). Đa axit uric thường thì vô hại, và đa số người có độ axit uric trong máu cao không phát triển thành bệnh gout. Nguyên nhân chính của chứng đa axit uric đôi khi không phát hiện được, mặc dù các yếu tố di truyền dường như cũng có ảnh hưởng. Khi mức axit uric trong máu quá cao, axit uric có thể kết tủa thành các tinh thể (dài hình kim, đầu nhọn) tích tụ trong khớp xương. Bệnh gout hình như bộc phát không có nguyên nhân cụ thể, hoặc gây ra do:
- những điều kiện liên quan đến chế độ ăn và trọng lượng cơ thể như:
* béo phì (14kg trên mức cân lý tưởng)
* uống rượu, nhất là bia, từ mức trung bình đến rất nhiều (trên 2 ly/ngày đối với nam, 1 ly đối với nữ)
* chế độ ăn nhiều thịt và đồ biển (chứa nhiều purine)
* chế độ ăn kiêng rất ít ca-lô-ri
- trị liệu có thể làm tăng mức tập trung axit uric như:
* thường dùng aspirin hay niacin (1-2 viên/ngày)
* thuốc làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể (như thuốc xổ tiểu làm giảm huyết áp)
* trị liệu làm tế bào chết nhanh chóng (ví dụ, xạ trị điều trị ung thư)
* thuốc khống chế hệ miễn nhiễm như cyclosporine, dùng để ngăn cơ thể không phản ứng với 1 bộ phận ghép
- bệnh nặng hay các tình trạng sức khỏe như:
* sút cân nhanh, như ở các bệnh nhân trong bệnh viện thay đổi chế độ ăn hay thuốc uống.
* bệnh thận mãn tính
* cao huyết áp
* những điều kiện gây ra mức sản sinh tế bào bất thường như: psoriasis, multiple myeloma, hemolytic anemia, hay ung bướu
* nhiễm độc chì
* thiểu năng tuyến giáp
- giải phẫu
- sinh ra với tình trạng hiếm có gây cao axit uric trong máu. Những người bị hội chứng Kelley-Seegmiller hay Lesch-Nyhan bị thiểu năng 1 phần hay toàn phần trong 1 phân hóa tố giúp kiểm soát mức axit uric.
Những tinh thể kết tủa còn có thể gây ra 1 chứng khác, gọi là gout giả. Nhưng thay vì gồm có axit uric, tinh thể gout giả lại được tạo thành từ dihydrat pyrophosphat calci. Và trong khi gout giả có thể tấn công ngón chân cái, nó thường tấn công những khớp to như đầu gối, cổ tay, và khớp bàn chân (ở mắt cá).
Những gì làm tăng nguy cơ bị bệnh?
Những yếu tố dưới đây (ngoài những gì đã nêu ở phần “nguyên nhân”) có thể hoặc là gây ra đa axit uric hoặc làm khớp dễ bị đóng axit uric :
- nam (40-50 tuổi); nữ sau mãn kinh
- tiền sử gia đình bị bệnh gout (nguy cơ 20%)
- thường bị mất nước
- tổn thương khớp
- xơ vữa động mạch
- bệnh tim
- tiểu đường
- cao cholesterol (mỡ trong máu)
- hẹp động mạch

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH GOUT:

Bệnh gout thường phát ra sau 1 số năm tích tụ tinh thể axit uric trong khớp và các mô bao quanh. Triệu chứng bao gồm: nóng, đau, sưng, và rất mềm ở 1 khớp, thường là 1 ngón chân cái. Triệu chứng này gọi là podagra.
Cơn đau bắt đầu trong đêm và nhiều đến mức chỉ cần tấm drap trải giường chạm nhẹ vào cũng đau không chịu nổi.
Sự khó chịu tăng nhanh, kéo dài mấy giờ trong đêm rồi giảm trong 2-7 ngày sau đó.
Khi cơn gout giảm, lớp da quanh khớp bị đau có thể tróc ra hay ngứa.
Các triệu chứng khác có thể gồm:
- da rất đỏ hay hơi tím quanh khớp bị đau, có vẻ bị nhiễm trùng.
- sốt
- cử động khớp hạn chế
Triệu chứng gout thay đổi.
- triệu chứng có thể có sau 1 cơn bệnh hay giải phẫu
- một số người có thể không bị gout với những cơn đau mà là gout mãn tính. Gout mãn tính ở những người lớn tuổi có thể ít đau hơn và có thể bị nhầm với các loại viêm khớp khác.
- bệnh gout có thể xuất hiện như những cục trên bàn tay, khuỷu tay, hay tai. Có thể không có những triệu chứng thông thường.
Đến lúc bạn thấy những triệu chứng của gout, thì axit uric đã tích tụ trong máu, và kết tủa axit uric đã có trong 1 hay nhiều khớp rồi.
Ngón chân cái thường bị nhất; tuy nhiên, khớp bàn chân, mắt cá, đầu gối, cổ tay, ngón tay, và khuỷu tay cũng có thể bị. Sưng túi dịch đệm các cơ có thể thấy, nhất là ở khuỷu tay và đầu gối.

III. DIỄN BIẾN CỦA BỆNH GOUT:

Những cơn đau nhẹ có thể ngưng sau vài giờ hay kéo dài 1-2 ngày. Những cơn đau này thường bị chẩn đoán sai là “bong gân” dù rằng không bị tổn thương nặng hay vận động quá nhiều.
Cơn đau nặng có thể kéo dài đến nhiều tuần, đau có thể đến cả tháng.
Đa số những người bị cơn đau thứ nhì trong vòng 6 tháng đến 2 năm sau lần thứ nhất, nhưng khoảng cách giữa những cơn đau có thể là nhiều năm. Nếu không chữa trị, khoảng cách sẽ giảm theo thời gian. Tuy nhiên, một số người không bao giờ bị đau lần 2.
Bệnh gout có 4 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: độ uric trong máu cao (không triệu chứng)
- Giai đoạn 2: viêm khớp cấp tính
Các tinh thể axit uric bắt đầu tích tụ trong chất dịch ở khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và cơ thể phản ứng sưng đột ngột: đó là cơn đau gout.
Khoảng 10-25% người bị gout sẽ bị sỏi thận.
Khoảng 10-40% người bị gout có sỏi thận trước khi bị cơn đau khớp.
Sau cơn đau, khớp bị đau và các mô xung quanh cảm thấy bình thường trong vòng vài ngày cho đến khi bị lần tiếp theo, thường xảy ra trong vòng 2 năm.
- Giai đoạn 3: đau cách khoảng
Nếu bạn đã từng bị cơn đau gout, bạn rất có thể bị 1 cơn nữa.
Ở bệnh này, bạn không thấy triệu chứng trong thời gian giữa 2 lần đau.
Ở nhiều người, giai đoạn này tiến triển chậm khi các cơn đau xảy ra thường hơn. Những cơn sau có thể đau hơn, lâu hơn, và ở nhiều khớp hơn.

- Giai đoạn 4: gout mãn tính
Nếu triệu chứng gout tái đi tái lại mà không điều trị trong 10 năm hay lâu hơn, chúng có thể trở thành mãn tính và thường tấn công nhiều khớp hơn. Có thể không còn khoảng cách giữa các cơn đau. Giai đoạn này thường bị nhầm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp.
Đến lúc này, đã đủ tinh thể axit uric tích tụ trong cơ thể để tạo thành những cục trông giống phấn bảng gọi là tophi. Khi ở dưới da, những cục này thường cứng và chạy tới chạy lui. Lớp da trên đó có thể mỏng và đỏ. Những cục tophi sát da có thể có màu kem hay vàng.
Ban đầu, các cục tophi thường thấy ở hay gần khuỷu tay, trên ngón tay, ngón chân, hay trên vành ngoài của tai.
Nếu tình trạng cứ tiến triển mà không chữa trị, cục tophi có thể xuất hiện ở lớp sụn của tai hay các mô quanh khớp (túi dịch, dây chằng và gân), gây đau đớn, sưng, đỏ, nóng (viêm). Có thể tàn tật, cũng như sụn và xương bị hủy hoại.
May thay, những tấn công trong cách điều trị sớm đã làm cho giai đoạn này ít xảy ra.

IV. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH GOUT:

Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong. Có 4 loại biến chứng của gút. Loại biến chứng thứ nhất liên quan đến tổn thương xương khớp. Đó là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tôphi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. Các biến chứng thứ hai liên quan tổn thương thận như sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… Loại biến chứng thứ ba liên quan đến chẩn đoán nhầm. Bệnh thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, và có nguy cơ bị dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một trong những chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp. Từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng lao, loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp. Các biến chứng thứ tư liên quan đến tai biến do dùng thuốc. Ngay cả khi chẩn đoán đúng, việc điều trị gút cũng có thể gây nên tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.

V. ĐIỀU TRỊ BỆNH GOUT:

Mục tiêu điều trị gout là giảm đau nhanh và phòng những cơn đau sau này cùng những tiến triển lâu dài, như hỏng khớp và hư thận. Điều trị gồm có thuốc và các bước thực hiện ở nhà để ngăn chặn những cơn đau sau này.
Trị liệu ban đầu
Trị liệu bệnh gout với thuốc nhằm giảm các triệu chứng và các biện pháp lọai bỏ nguyên nhân gây bệnh.Liệu pháp cụ thể còn tùy bạn đang bị cơn đau cấp tính hay đang ngăn ngừa các cơn đau sau.
Để giảm đau, sưng, đỏ, và nóng ở khớp bị đau trong cơn tấn công cấp tính:
- cho khớp bị đau được nghỉ
- uống 1 hay nhiều loại thuốc sau đây ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của cơn đau, theo toa bác sĩ:
* các loại thuốc chống viêm không có steroid như ibuprofen (như thuốc cảm Advil, Motrin…), naproxen (như Aleve, …) hay indomethacin. Hãy lưu ý rằng những loại thuốc này có thể gây ra tác dụng phụ, gồm cả đau bao tử, xuất huyết và loét bao tử. Hơn nữa, các thuốc này có tác dụng nóc – giới hạn của tác dụng giảm đau. Điều này có nghĩa là trên liều lượng tối đa, thì thuốc cũng không có thêm tác dụng giảm đau. Ngoài ra, nên tránh uống aspirin vì nó có thể gây ra thay đổi đột ngột về mức axit uric trong máu và làm bệnh tệ hơn.
* colchixin
* corticosteroid (ví dụ như Prednisone)
Mặc dù các loại steroid có thể làm giảm đau rõ rệt, chúng cũng có thể gây ra tác dụng phụ, kể cả loãng xương, chậm lành vết thương và suy giảm hệ miễn dịch. Đôi khi bác sĩ tiêm cortison vào khớp đau. Nhưng cách này vẫn có thể gây ra tác dụng phụ, và tiêm thì không quá 3 mũi một năm.
* probenecid, sulfinpyrazone
* kích thích tố adrenocorticotropic
Một khi cơn đau cấp tính đã qua, bác sĩ có thể đề nghị trị liệu phòng ngừa để làm chậm lại hay tăng lên tốc độ cơ thể sản sinh ra axit uric.
Điều chỉnh chế độ ăn uống
Vì béo phì có thể liên quan đếnmức axit uric cao, bác sĩ thường chỉ định chế độ ăn uống đặc biệt để giúp giảm / kiểm soát trọng lượng cơ thể. Nhưng kiêng cữ hay áp dụng chế độ ăn uống quá nghiêm nhặt có thể nâng mức axit uric và làm bệnh gout tệ thêm.
Đa số bệnh nhân gout có thể ăn những gì mình thích, trong giới hạn. Những người bị sỏi thận do axit uric có thể cần tránh hay giới hạn những thực phẩm (có nhiều purin) làm tăng mức axit uric như: cá mòi, cá cơm, cá trích, sò ốc (như: paua, pipi, hến, trai), trứng cá, sò điệp, nước hầm xương, nước sốt (lấy từ lò nướng), óc, cật, gan, tim, lưỡi, bao tử, phèo/lá lách, và thịt đỏ (như thịt bò/cừu; nhất là thịt quay/ nướng); măng tây, nấm, đậu Hòa lan, đậu lentil, và đậu ve. Hầu hết mọi người mỗi ngày chỉ nên ăn khoảng 150-200g thịt nạc heo/bò, thịt gà, hay cá. Những bệnh nhân gout có thể uống cà phê và trà, nhưng cần phải giới hạn mức cồn (nhất là bia và rượu). Để tống các tinh thể axit uric ra khỏi cơ thể, bệnh nhân gout nên uống mỗi ngày ít nhất 10-12 ly nước lã hay nước giải khát không cồn (loại ly thấp ¼ lít).
Thay đổi loại thuốc trị cao huyết áp, nếu có uống.
Để ngăn ngừa cơn đau tái phát:
Uống những loại thuốc làm giảm mức axit uric trong máu:
- thuốc giúp thận tăng sự ức chế axit uric: như benzbromarone, probenecid (Benemid), sulfinpyrazone
- allopurinol làm giảm mức cơ thể sản sinh axit uric
- colchicines thường được chỉ định để ngừa cơn đau bộc phát trong những tháng đầu bạn dùng thuốc hạ axit uric.
Theo các bước để giảm nguy cơ tái phát:
- Thừa cân là 1 yếu tố dễ mắc bệnh gout. Nếu bạn thừa cân, 1 chế độ ăn ít dầu mỡ có thể giúp bạn giảm cân. Tuy nhiên, các chế độ ăn kiêng quá ít ca-lô-ri lại làm cơ thể tăng lượng axit uric và có thể gây ra cơn đau gout.
- Chất cồn có thể làm thận giảm bài tiết axit uric ra nước tiểu, làm tăng mức axit uric trong cơ thể. Bia, rất giàu chất purin, hình như có hại hơn một số thức uống có cồn khác.
- Các chế độ ăn nhiều thịt và đồ biển (là những thực phẩm giàu purin) có thể làm tăng mức axit uric.
- Một số thuốc có thể được chỉ định cho các bệnh khác lại làm giảm mức thải axit uric của thận. Gồm có các loại thuốc viên giảm muối và nước trong cơ thể, niacin, hoặc thường xuyên dùng aspirin. Trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc khác có cùng hiệu quả nhưng an toàn hơn đối với bệnh gout.
- Theo 1 chương trình thể dục vừa phải:
Đa số bệnh nhân gout sẽ phải uống thuốc giảm axit uric suốt đời.Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, một số người có thể giảm mức axit uric đến bình thường bằng cách kiểm soát trọng lượng của mình, không uống rượu, và tránh dùng 1 số thuốc cho các bệnh khác.
Khi mức axit uric trong máu cao nhưng không có triệu chứng đau, thì trị liệu là không cần thiết ở những người khỏe mạnh.Tuy nhiên, những người có mức axit uric quá cao có thể phải thường xuyên xét nghiệm để xem dấu hiệu tổn thương thận, và cần trị liệu lâu dài để giảm mức axit uric cho đến mức bình thường.
Trị liệu kéo dài
Nếu bạn đã bị 1 cơn đau gout, bạn có nhiều khả năng bị lại, nhất là nếu bạn không dùng thuốc hay các trị liệu khác.Mục tiêu trị liệu là ngăn ngừa các cơn tái phát sau này, giảm mức axit uric, và phát hiện cũng như điều trị các nguyên nhân gây cao axit uric.
Khi nào phải đến bác sĩ?
Gọi hay đến bác sĩ ngay nếu bạn có những triệu chứng sau:
- đau dữ dội ở 1 khớp, bộc phát rất nhanh
- sưng, mềm khớp với lớp da bên trên nóng, đỏ.
Chờ đợi trong cảnh giác
Trong 1 cơn đau gout, bạn có thể làm giảm nhẹ bằng cách uống thuốc chống viêm không có steroid (NSAID), và để khớp đau được nghỉ ngơi, cho đến khi cơn đau chấm dứt. Khăn chườm nóng và nâng bộ phận có khớp đau lên cao có thể giúp bạn cảm thấy đỡ hơn.
Mặc dù aspirin cũng là 1 NSAID, đừng dùng nó khi bị gout.
Bạn nhất thiết phải đến bác sĩ cho dù cơn đau đã qua. Axit uric tích tụ đã gây ra cơn gout có thể vẫn còn tấn công khớp của bạn và cuối cùng có thể làm tổn thương khớp. Bác sĩ có thể cho toa để ngăn ngừa hay đảo ngược mức tích tụ axit uric.
PHÒNG TRÁNH BỆNH GOUT:
Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Vì ăn uống bừa bãi là một yếu tố thúc đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân (nếu béo phì) và uống nhiều nước (khoảng 1,5-2 lít nước/ngày), đặc biệt là nước khoáng kiềm (để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu).
  • Thứ nhất, lượng thịt ăn hằng ngày không nên quá 15g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi…), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như  thịt gia cầm,  cá nạc.
  • Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng.
  • Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả.
  • Thứ  tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh… vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn.
  • Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, kể cả rượu vang, rượu thuốc.
Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mọi mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như  tránh lạnh, lao động quá mức, chấn thương, stress… Ngoài ra, bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin.
Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa nhân purin của tế bào, có thể nói nôm na là rối loạn chuyển hóa đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức acid uric trong máu và trong các mô của cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.
Các khó khăn chính gặp phải khi chẩn đoán bệnh gút
Tổn thương khớp, biểu hiện của bệnh gút (phim Xquang).
Khi bệnh ở thể điển hình thì có thể phát hiện được không mấy khó khăn. Chẩn đoán bệnh hiện nay vẫn dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ 1968. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, chẩn đoán gút còn gặp nhiều khó khăn. Có 3 nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác chẩn đoán. Thứ nhất, đây là bệnh khá mới nên ngay cả cán bộ y tế vẫn còn lúng túng khi chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều cơ sở y tế lại chưa có khả năng làm các xét nghiệm cần thiết như chọc dịch khớp, xét nghiệm acid uric máu… nên bỏ qua, không chẩn đoán được bệnh. Nguyên nhân thứ hai là bệnh có rất nhiều biểu hiện và nhiều thể bệnh khác nhau, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác. Nguyên nhân thứ ba là tình trạng lạm dụng thuốc bừa bãi hiện nay. Bệnh nhân được dùng quá nhiều loại thuốc nên mất hết triệu chứng, khiến chẩn đoán trở nên rất khó khăn. Có nhiều bệnh nhân gút vào viện với các biến chứng nặng nề do lạm dụng thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.
Các hiểu biết giúp cho chẩn đoán bệnh chính xác
Chú ý đến đối tượng và lứa tuổi hay mắc bệnh: Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Tuyệt đại đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn uống (rượu, bia) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.
Các biểu hiện chính của bệnh gút giúp ích cho việc chẩn đoán: Để phát hiện sớm được bệnh gút, cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh gồm các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận. Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gút. Cơn xuất hiện đột ngột, thường vào ban đêm. Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới: gối, cổ chân và đặc biệt là ngón chân cái… Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc đỏ. Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicin thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Các đợt viêm khớp này có thể tự khỏi sau khoảng 1-2 tuần. Sau đó lại xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Khi tiến triển lâu dài thì bệnh chuyển sang giai đoạn mới. Đó là gút mạn tính. Các khớp bị sưng đau thường xuyên, dần dần bị biến dạng, cứng khớp, dẫn đến tàn phế. Biểu hiện thứ hai của bệnh gút là xuất hiện các hạt tophi ở trên các khớp bị tổn thương như khớp cổ chân, bàn ngón chân… Đó là các u cục nổi lên dưới da, không đau, da phủ trên đó bình thường, mỏng, dưới da có thể nhìn thấy chất bột trắng. Hạt tophi cũng có thể ở tình trạng viêm cấp, hoặc rò ra chất nhão và trắng như phấn. Biểu hiện thứ ba của bệnh gút là tổn thương thận.
Trong gút mạn tính có thể có lắng đọng muối urat trong thận tạo thành sỏi thận. Khi đó bệnh nhân có các cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái ra sỏi, hay thậm chí không có nước tiểu do sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu. Để chẩn đoán chính xác bệnh gút cần làm thêm xét nghiệm định lượng acid uric trong máu. Thường phát hiện được nồng độ acid uric máu tăng cao. Các xét nghiệm khác và Xquang khớp tổn thương cho phép xác định mức độ tổn thương và phát hiện các bệnh khác kèm theo.
Chẩn đoán nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh: Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gút là gút nguyên phát và gút thứ phát. Gút nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. Gút thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố thuận lợi gây bệnh chính. Thứ nhất là yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Thứ hai là yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp. Vì vậy có câu gút là vua của các bệnh và là bệnh của các vua. Nói là vua của các bệnh vì gút cấp gây đau khớp ghê gớm. Nói bệnh của các vua là vì gút trước hết thường hay gặp ở vua chúa, hay những người giàu có. Thứ ba là tật nghiện bia rượu. Ở Việt Nam có tới 75% bệnh nhân gút uống rượu bia thường xuyên trung bình từ 7-10 năm. Thứ tư là các rối loạn chuyển hóa khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu. Các nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ người béo phì có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với những người có cân nặng bình thường. Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút lên 3 lần. Thứ năm là tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.
Tóm lại, khi bệnh nhân đau sưng các khớp ở chi dưới, có các tính chất như cơn gút cấp, hay có các hạt tophi hay bị sỏi thận, đặc biệt ở bệnh nhân nam giới, cần phải nghĩ đến bệnh gút trước tiên và người bệnh cần đến khám bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để chẩn đoán bệnh và điều trị kịp thời.

Continue Reading | nhận xét
/

Mẹ và Bé

Sức khỏe sinh sản

BỆNH GOUT

hoanghieu.come.vn
 

Copyright © 2011. VUHOANGHIEU.TK - All Rights Reserved
Template Modify by vuhoanghieu Inspired
Proudly powered by